Thứ Ba, 14 tháng 3, 2017

Bệnh lao phổi điều trị càng sớm càng tốt

Edit Posted by Unknown with No comments

Lao là tình trạng nhiễm vi khuẩn mycobacterium tuberculosis, thường gặp nhất ở phổi nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương (lao màng não), hệ bạch huyết, hệ tuần hoàn (lao kê), hệ niệu dục, xương và khớp.

Nếu không điều trị bệnh lao kháng đa thuốc tốt sẽ dễ chuyển sang bệnh lao siêu kháng thuốc. Trong ảnh: Bệnh nhân lao kháng đa thuốc đang được chăm sóc tại Bệnh viện phổi Đồng Nai.

Đối tượng dễ mắc bệnh lao

Tuổi mắc bệnh: Lao phổi thường gặp ở người lớn (do sức đề kháng kém); ở trẻ em từ 10-14 tuổi (lứa tuổi có nhiều thay đổi về nội tiết).

Nguồn lây: Những người tiếp xúc với người bệnh lao, đặc biệt là tiếp xúc lâu dài và trực tiếp thì càng dễ bị bệnh.

Người mắc một số bệnh: Bệnh bụi phổi, bệnh phổi do virus, đái tháo đường, loét dạ dày - tá tràng; có HIV/AIDS, suy dinh dưỡng...

Cơ địa có sức đề kháng kém: Phụ nữ có thai, nghiện rượu, người già…

Mức sống thấp, căng thẳng tinh thần… đều là yếu tố thuận lợi cho sự phát sinh và phát triển của bệnh lao nói chung và lao phổi nói riêng.

Biểu hiện lâm sàng

Đa số trường hợp bệnh bắt đầu một cách từ từ với các dấu hiệu sau đây:

Biểu hiện toàn thân: Bệnh nhân mệt mỏi, giảm khả năng làm việc, ăn kém, gầy sút, sốt nhẹ về chiều tối (37,5-38OC) kèm theo ra mồ hôi về ban đêm, da xanh...

Triệu chứng cơ năng: Ho khạc đờm (đờm nhầy, màu vàng nhạt, có thể màu xanh hoặc mủ đặc); ho ngày càng tăng, có thể ho ra máu; đau ngực liên tục (thường đau khu trú ở một vị trí cố định); khó thở tăng cả khi nghỉ ngơi.

Lao phổi ở trẻ em: Tổn thương ở phổi thường xuất hiện sau tổn thương tiên phát từ 6-14 năm, do đó lao phổi trẻ em hay gặp từ 10-14 tuổi. Do có những thay đổi về nội tiết ở lứa tuổi này mà trẻ em hay bị các thể lao phổi nặng, như: phế quản - phế viêm do lao hoặc viêm phổi bã đậu.

Lao phổi ở người già: do cơ thể bị giảm miễn dịch nên người già dễ bị lao phổi. Việc phát hiện bệnh lao phổi ở người già có thể bị chậm trễ vì nhiều người già bị các bệnh hô hấp mạn tính, triệu chứng của các bệnh này cũng giống triệu chứng của bệnh lao phổi (ho, đau ngực...), vì vậy khi bị lao lại cho là bị bệnh khác. Ở người già, chức năng của các cơ quan bị suy giảm (trong đó có chức năng của gan, thận) và thường có những bệnh khác phối hợp. do đó, khả năng dung nạp thuốc lao kém, vì vậy kết quả điều trị lao phổi cũng bị hạn chế.

Điều trị càng sớm càng tốt

Điều trị lao phổi chủ yếu là điều trị nội khoa, kết quả điều trị phụ thuộc nhiều vào thời gian phát hiện bệnh sớm hay muộn. Việc điều trị phải theo đúng nguyên tắc chữa bệnh lao sẽ nhanh chóng chữa khỏi bệnh. Đối với người có bệnh gan, thận kèm theo thì cần cân nhắc từng trường hợp cụ thể mà sử dụng thuốc cho hợp lý; đánh giá kết quả điều trị theo diễn biến của triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng, trong đó xét nghiệm tìm vi khuẩn lao trong đờm là quan trọng nhất.

Những bệnh nhân lao phổi có vi khuẩn kháng thuốc thường có rối loạn miễn dịch của cơ thể. Điều chỉnh lại những rối loạn miễn dịch được coi là một biện pháp điều trị hỗ trợ. Các biện pháp tăng cường sức đề kháng từ chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân lao phổi cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ điều trị và phục hồi các tổn thương cơ thể.

ng tác phòng trừ dịch bệnh theo mùa cho đàn chim cũng được anh đặt lên hàng đầu. Một năm đàn chim bố mẹ được tiêm phòng vác xin 3 lần; chuồng nuôi thường xuyên được dọn dẹp vệ sinh, phun thuốc sát trùng. Trung bình mỗi tháng gia đình anh Hùng cho xuất bán từ 250-350 cặp chim thương phẩm và 200 đến 300 cặp chim giống. Giá bán mỗi cặp chim thương phẩm là 140 nghìn đồng và từ 200-300 nghìn đồng/cặp chim giống. Trừ chi phí, bình quân mỗi tháng gia đình thu lãi 30 triệu đồng.

Mô hình nuôi chim bồ câu của anh Hùng đã trở thành địa chỉ tin cậy để nhiều nông dân đến thăm quan, học tập kinh nghiệm và mua con giống. Nhờ sự hỗ trợ của anh, 3 hộ trên địa bàn xã Cách Bi, 1 hộ ở Lương Tài và 1 hộ ở Hải Dương đã mạnh dạn đầu tư và bước đầu cho kết quả khả quan. “So với nhu cầu của thị trường thì nguồn cung chim bồ câu thương phẩm mới chỉ đáp ứng được khoảng 40%. Do vậy, bên cạnh việc mở rộng quy mô thì các hộ chăn nuôi cần phải tăng cường mối liên kết, hỗ trợ nhau cùng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm”, anh Hùng tâm sự.

Ông Lê Thanh Bình, Chủ tịch Hội Nông dân huyện Quế Võ cho rằng, với hiệu quả kinh tế cao, việc phát triển mô hình nuôi chim bồ câu Pháp là hướng đi đúng đắn, song cũng cần có định hướng về thị trường, tư vấn kỹ thuật chuồng trại và chăm sóc để mô hình phát triển bền vững, cho hiệu quả kinh tế cao nhất.

Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

Lao phổi và đái tháo đường : Mối liên quan nguy hiểm

Edit Posted by Unknown with No comments

Lao là một bệnh truyền nhiễm, còn đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh mạn tính không lây nhiễm. Đây là hai loại bệnh khác nhau nhưng lại có liên quan tới nhau

Lao là một bệnh truyền nhiễm, còn đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh mạn tính không lây nhiễm. Đây là hai loại bệnh khác nhau nhưng lại có liên quan tới nhau: ĐTĐ là một trong những yếu tố thúc đẩy cho bệnh lao tiến triển.
Vì sao người bệnh ĐTĐ dễ mắc lao phổi?
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệ đái tháo đường (ĐTĐ) trên toàn thế giới chiếm từ 0,24% đến 5,15% dân số, đến năm 2025 sẽ có khoảng 330 triệu người. Dự báo trong 20 năm 2010-2030 tỷ lệ mắc đái tháo đường trên toàn cầu tăng 54%. Ở Việt Nam chỉ trong 10 năm vừa qua đã tăng tới 200%. Tỷ lệ tiền đái tháo đường cũng gia tăng nhanh chóng từ 7,7% lên gần 14%. Bệnh ĐTĐ ở giai đoạn muộn gây ra các rối loạn chất đạm, chất mỡ và các chất điện giải. Đặc biệt bệnh ĐTĐ thường gây nhiễm khuẩn phổi – phế quản, lao phổi. Hai bệnh ĐTĐ và lao phổi thường là người “bạn đồng hành” với nhau như bóng với hình như HIV/AIDS với lao phổi. Người mắc ĐTĐ thường mắc lao phổi, nhưng ngược lại người mắc lao phổi không phải đều mắc ĐTĐ.
Nguyên nhân ĐTĐ mắc lao phổi nói riêng và các bệnh nhiễm khuẩn nói chung là do cơ thể bị suy giảm miễn dịch làm cho sức đề kháng giảm sút, đây là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn lao phát triển. Người bệnh phát hiện lao phổi phần lớn sau 5 năm mắc ĐTĐ, gần 2/3 trường hợp ĐTĐ phát hiện trước lao phổi.
Các dấu hiệu lâm sàng khởi phát của bệnh ĐTĐ/lao phổi không khác với lao phổi đơn thuần: Khởi phát cấp tính, bán cấp và không triệu chứng, phát hiện do tình cờ. Phổ biến là các dấu hiệu bán cấp: sốt nhẹ  về buổi chiều, gây sút cân, ho. Tuy nhiên có một số điểm đặc biệt.
Xét nghiệm đờm soi trực tiếp tìm BK thường (+), khoảng 70% ở giai đoạn toàn phát.
Hình ảnh Xquang tổn thương phổi khác với lao phổi đơn thuần: Tổn thương thường đối xứng hai bên, thể bệnh lao thâm nhiễm phổ biến. Vị trí thường ở vùng rốn phổi, đáy phổi (lao phổi đơn thuần hay  gặp ở vùng đỉnh và dưới đòn).
Đái tháo đường và lao phổiBệnh nhân đái tháo đường phải kiểm soát đường huyết để tránh thúc đẩy mắc lao phổi tiến triển.

Những lưu ý trong điều trị

Về điều trị lao phổi/ĐTĐ gặp một số khó khăn vì vừa phải điều trị cả bệnh ĐTĐ vừa phải điều trị lao phổi. Chức năng gan của người bệnh ĐTĐ đã yếu, khi sử dụng các thuốc điều trị lao lại độc với gan. Bản thân các thuốc chữa ĐTĐ như sulfonyl urae, metformin, acarbose... cũng độc với gan, do đó không tránh khỏi tai biến do thuốc gây ra. Vì vậy, đối với bệnh nhân lao phổi/ĐTĐ thì điều trị phải xong hành cả hai bệnh, đồng thời phải theo dõi thường xuyên chức năng gan. Mục tiêu là phải kiểm soát đường huyết lúc đói dưới 126mg% và HbA1C dưới 7%. Để đạt được những yêu cầu trên bác sĩ điều trị nên cân nhắc điều trị bằng insulin sớm cho bệnh nhân nhằm đạt được hiệu quả giảm các tác dụng phụ của thuốc và giảm biến chứng của bệnh ĐTĐ. Chế độ ăn uống của người bệnh ĐTĐ cần phải kiêng khem, ngược lại với lao phổi lại cần phải bồi dưỡng để nâng cao sức đề kháng của cơ thể... Kết quả điều trị thất bại và tái phát cũng cao hơn điều trị lao phổi đơn thuần.
Bệnh ĐTĐ là một trong những yếu tố thúc đẩy cho bệnh lao tiến triển. Vì thế cần kiểm tra đường huyết cho những bệnh nhân bị lao phổi và những bệnh nhân bị đáo tháo đường. Cần chụp Xquang phổi 6 tháng một lần nếu có nghi ngờ thì xét nghiệm đờm tìm vi trùng lao để phát hiện và điều trị kịp thời, sẽ đạt hiệu quả cao. Cần phải điều trị lao tích cực, đúng phác đồ, phối hợp với điều trị ĐTĐ. Do đó cần phối hợp 3 chuyên khoa cùng điều trị: Chuyên khoa lao phổi, chuyên khoa nội tiết và chuyên khoa dinh dưỡng. Khi có các biến chứng phải phối hợp với chuyên khoa khác như: Tim mạch, thần kinh, mắt... mới đạt hiệu quả.

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Cải thiện bệnh lao phổi bằng hạt điều

Edit Posted by Unknown with No comments

Hạt điều mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. Các chuyên gia sức khỏe Ấn Độ cho biết ăn hạt điều có thể cải thiện chứng bệnh lao, viêm phổi cùng nhiều bệnh khác.


Chữa lao. Hạt điều có tác dụng tiêu diệt các loại vi khuẩn gây bệnh về đường hô hấp nguy hiểm như lao.
Đẩy lùi viêm phổi. Ăn hạt điều giúp tăng thân nhiệt, qua đó vô hiệu hóa các vi khuẩn gây viêm phổi.
Ngừa sỏi mật. Các enzyme được tìm thấy trong hạt điều giữ túi mật khỏi các độc tố và chất thải, từ đó ngăn ngừa sự hình thành sỏi mật có hại.
Ngăn chặn tăng cân. Các chuyên gia cho biết ăn hạt điều ít nhất một lần trong ngày giúp thúc đẩy quá trình trao đổi chất của cơ thể, ngừa tăng cân.
Một số thực phẩm có khả năng làm giảm căng thẳng, chúng có thể giúp bạn cảm thấy bớt áp lực.

Chống sâu răng. Vi khuẩn gây sâu răng không có cơ hội hoành hành nếu bạn ăn hạt điều thường xuyên. Hạt điều chứa nhiều chất giúp tiêu diệt các vi khuẩn gây hại sức khỏe răng miệng.
Trị trầm cảm. Ăn hạt điều giúp tăng lượng hormone tạo cảm giác thư thái, dễ chịu là serotonin trong não, qua đó điều trị trầm cảm.
Chặn ung thư tuyến tụy. Hạt điều có tác dụng ngăn chặn quá trình nhân lên của tế bào ung thư trong tuyến tụy, góp phần ngừa ung thư.
Chống thiếu máu. Vì hạt điều rất giàu chất sắt nên giúp kích thích sản sinh các tế bào hồng cầu khỏe mạnh để điều trị các tình trạng như thiếu máu.

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016

Xét nghiệm chuẩn đoán lao phổi

Edit Posted by Unknown with No comments
Để chẩn đoán lao phổi, bệnh nhân cần thực hiện các xét nghiệm thông thường như: xét nghiệm đờm, xét nghiệm hình ảnh, phản ứng uberculin, soi phế quản và các xét nghiệm khác.

1. Xét nghiệm đờm

Xét nghiệm đờm trực tiếp tìm trực khuẩn lao BK (+) là biện pháp quan trọng nhất, là cách chẩn đoán chắc chắn nhất lao phổi.

Xét nghiệm đờm có thế dùng phương pháp nhuộm Ziehl Neelsen hoặc phương pháp huỳnh quang dùng ánh sáng cực tím.

Phương pháp nhuộm Ziehl Neelsen phổ biến nhất, rẻ tiền, dễ thực hiện có thể tiến hành ở mọi nơi, mọi chỗ, rất thích hợp với các nước nghèo, các nước đang phát triển.

Phương pháp huỳnh quang chỉ có thể tiến hành ở những nơi có đầy đủ trang bị, kỹ thuật chưa phổ biến ở các nước nghèo, các nước đang phát triển.

Các phương pháp khác chỉ được dùng trong những trường hợp giới hạn, ở những nơi có điều kiện trang bị kỹ thuật khi mà phương pháp xét nghiệm đờm trực tiếp không cho được kết quả đầy đủ: phương pháp nuôi cấy đờm, làm kháng sinh đồ, ngoáy họng, hút dịch dạ dày lấy bệnh phẩm, soi phế quản, sinh thiết thành phế quản v.v...

2. Xét nghiệm hình ảnh (X-quang)

Có một giá trị nhất định trong chẩn đoán lao phổi. Khi kết hợp với xét nghiệm soi đờm trực tiếp và khi soi đờm đã cho kết quả dương tính, chụp X-quang phổi cho biết mức độ, độ rộng của tổn thương phổi.


Một mình X-quang phổi không thể cho chẩn đoán lao một cách chắc chắn.

3. Phản ứng tuberculin

Có giá trị lớn trong đánh giá độ lưu hành bệnh lao trong cộng đồng ở các nước nghèo có độ lưu hành lao cao, phản ứng này ít có giá trị trong chẩn đoán.

Phản ứng tuberculin dương tính mạnh có thể nghĩ đến bệnh lao nhưng chỉ là giá trị gợi ý chấn đoán và phản ứng âm tính cũng không thể loại trừ bệnh lao. Một điểm khác cần chú ý là nếu đã có những bằng chứng rõ ràng khác nghĩ đến bệnh lao (tìm thấy trực khuẩn lao khi soi đờm trực tiếp, hình ảnh tổn thương phổi trên phim X-quang nghĩ đến lao....) thì phản ứng tuberculin âm tính cũng không loại trừ được bệnh lao.

Ở trẻ em ngược lại so với ở người lớn phản ứng tuberculin dương tính rất có giá trị trong chẩn đoán bệnh lao.

4. Soi phế quản

- 28% lao sơ nhiễm có biến đổi ở khí quản như niêm mạc phù nề, dò hạch phế quản (lỗ dò đôi khi sùi), chít hẹp phế quản do hạch chèn ép, chèn ép khí phế quản.

- Khí phế thũng tắc nghẽn ở thuỳ dưới do hạch sưng to chèn ép hoặc do lao phế quản, đôi khi biểu hiện khí phế thũng trước khi xẹp phổi.

5. Các xét nghiệm khác

- Khám đáy mắt, tai mũi họng (nnéu có hạch cổ sưng to), chọc dịch não tuỷ để đánh giá sự lan tràn của nhiễm trùng lao, xác định thể bệnh, mức độ của lao sơ nhiễm.

- Xét nghiệm máu: bạch cầu đa nhân trung tính tăng. Tốc độ máu lắng tăng..



- Nuôi cấy bệnh phẩm.

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Điều trị bệnh lao ở phụ nữ mang thai như thế nào để hiệu quả?

Edit Posted by Unknown with No comments
Phụ nữ mắc bệnh lao vẫn có thể mang thai và sinh con bình thường bởi vì bệnh lao không phải là bệnh di truyền. Tuy nhiên, trong quá trình mang thai và sau khi sinh phụ nữ mắc bệnh lao cần phải được chăm sóc kỹ càng hơn. Bài viết chia sẻ cách điều trị lao ở phụ nữ mang thai.

Hướng dẫn điều trị lao ở phụ nữ mang thai

Chú ý biểu hiện và thăm khám sớm, kịp thời

Bệnh lao dễ bị bỏ qua hoặc phát hiện muộn. Tình trạng thai nghén đã tạo điều kiện cho tổn thương lao dễ phát sinh và phát triển. Những tổn thương đã ổn định có thể tái triển trở lại.

Bệnh lao hay gặp trong thời gian 3 tháng đầu và sau khi sinh con hơn là ở các tháng khác của thời kỳ thai nghén. ở thời gian 3 tháng đầu, triệu chứng của bệnh lao dễ lẫn với dấu hiệu có thai như; chán ăn, mệt mỏi… Vì vậy người phụ nữ ít chú ý và không đi khám bệnh.


Tuy nhiên ngoài triệu chứng kể trên, thì bệnh lao còn có những triệu chứng khác với dấu hiệu thai nghén đó là người bệnh có sốt nhẹ về chiều, nhiệt độ thường chỉ 370 – 380c, hay có triệu chứng kèm theo về hô hấp như ho khạc đờm, đau tức ngực. Nếu người phụ nữ có các triệu chứng trên đây, ở bất cứ thời gian nào khi có thai, thì cần đi khám để xác định xem có bị bệnh lao hay không.

Chăm sóc sức khoẻ

Sau khi sinh con, sản phụ cũng có thể mắc các thể lao nặng như lao kê, lao màng não. Các thể lao nặng này có triệu chứng hay gặp như sốt cao kéo dài. Triệu chứng này dễ nhầm với sốt sót rau hoặc sốt hậu sản.

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, những trường hợp sốt cao kéo dài ở phụ nữ sau đẻ, khi chụp phim phổi đã phát hiện nhiều trường hợp có tổn thương lao kê. Vì vậy những sản phụ sau đẻ, nếu sốt kéo dài cần phải được chụp phim phổi kiểm tra để phát hiện tổn thương phổi. Cũng cần lưu ý là những nốt lao kê nhỏ nếu chỉ chiếu X quang phổi thì rất khó phát hiện.

Cần điều trị lao ở phụ nữ mang thai như thế nào?


Kết quả điều trị lao ở phụ nữ mang thai cũng tốt như ở những bệnh nhân lao khác, điều quan trọng là cần đến các cơ sở y tế để phát hiện sớm và điều trị kịp thời theo chỉ dẫn của bác sỹ chuyên khoa, cần nghiêm ngặt thực hiện đúng phác đồ điều trị lao không bỏ dở điều trị vì như vậy không những không khỏi mà vi khuẩn lao kháng thuốc sẽ có nguy hại hơn cho cả mẹ và con.

Sau khi sinh con, người mẹ cần được nghỉ ngơi, ăn uống đầy đủ chất để phục hồi sức khoẻ, cho trẻ bú sữa mẹ bình thường. Việc tiêm phòng vắc –xin BCG cho trẻ là bắt buộc. Cũng không nhất thiết phải cách ly mẹ và con, trừ lúc mới sinh con mà người mẹ vẫn còn vi khuẩn lao ở trong đờm.

Trên đây là cách điều trị lao ở phụ nữ mang thai hy vọng những kiến thức này sẽ giúp ích trong quá trình điều trị và chăm sóc phụ nữ mang thai.

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2016

Bị lao phổi thì nên ăn gì cho nhanh khỏi

Edit Posted by Unknown with No comments
Nhiều người vẫn nghĩ khi mắc bệnh lao chỉ cần uống thuốc đúng chỉ định sẽ phục hồi bệnh, thực tế thuốc chỉ giúp tiêu diệt vi khuẩn. Muốn nhanh hồi phục phải kết hợp với chế độ ăn uống điều độ, đủ dinh dưỡng đồng thời nghỉ ngơi hợp lý.

Người có hệ miễn nhiễm kém, tiểu đường, bệnh bụi phổi, bệnh nhân đang dùng thuốc steroids, thuốc chữa thấp khớp, xạ trị... tuổi già, nghiện rượu hay ma túy, suy dinh dưỡng, thiếu săn sóc y tế, sống hay làm việc ở những nơi đông người, không thoáng... sẽ dễ bị mắc lao.


Sốt là triệu chứng hay gặp ở người lao phổi. Sốt có thể ở nhiều dạng: sốt cao, sốt thất thường nhưng hay gặp nhất là sốt nhẹ hay gai lạnh về chiều, gầy, sút cân, ra mồ hôi trộm, chán ăn, mệt mỏi... ho, khạc đờm hoặc ho ra máu. Ho ra máu là triệu chứng có thể gặp ở 60% những người lao phổi. Các triệu chứng khác là: đau ngực, khó thở, có tiếng rên khu trú ở một vùng của phổi…

Nguyên tắc dinh dưỡng

Sức đề kháng và khả năng miễn dịch của người bị bệnh lao thường rất yếu. Hơn nữa, người bị bệnh lao dễ bị chán ăn, giảm hấp thu chất dinh dưỡng (kể cả các vi chất). Quá trình chuyển hóa cũng bị thay đổi theo chiều hướng tăng tiêu hao năng lượng và các chất dinh dưỡng dẫn đến sụt cân và thiếu dưỡng chất. Do đó, cải thiện tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân sẽ làm tăng hiệu quả điều trị bệnh lao, giúp bệnh nhân nhanh chóng hồi phục.

Đối với người bị bệnh lao thì năng lượng nạp vào tùy theo thể trạng. Nếu gầy phải ăn nhiều để đạt chỉ số BMI (chỉ số khối cơ thể) trên 18,5. Nếu thể trạng bình thường thì năng lượng nạp vào không thay đổi. Điều quan trọng trong chế độ dinh dưỡng của bệnh là phải đủ 4 nhóm thực phẩm: đường, đạm, dầu mỡ vitamin và khoáng chất. Ngoài ra, cần ưu tiên lượng đường từ quả chín để tốt cho gan thải độc do tác dụng phụ của thuốc.

Các vitamin và khoáng chất nào cần ưu tiên?

Kẽm: Do cơ chế hoạt động của các loại thuốc điều trị lao đã gây nên tình trạng thiếu hụt kẽm ở người bệnh dẫn đến chán ăn, suy giảm hệ miễn dịch. Người bệnh nên chọn thực phẩm giàu kẽm như: sò, hến, con hàu, cùi dừa già, đậu Hà Lan, đậu tương, củ cải, lòng đỏ trứng gà, thịt lợn nạc…

Vitamin A, E, C: Đây là những chất quan trọng giúp tăng cường hệ miễn dịch, bảo vệ niêm mạc, giúp da khỏe mạnh, tránh nguy cơ bị nhiễm khuẩn, chống ôxy hóa những người bị bệnh lao lại dễ bị thiếu hụt. Có thể uống bổ sung ở dạng dược phẩm theo chỉ định của bác sĩ  hoặc ưu tiên chọn thực phẩm giàu các vitamin này như: rau tươi có màu xanh đậm, quả chín có màu vàng đỏ như cam, xoài, đu đủ, cà chua, cà rốt chứa nhiều vitamin A, C; gan súc vật và gia cầm, thịt đỏ như thịt lợn nạc, thịt bò, cá biển… đều chứa nhiều vitamin D.

Sắt: Nguy cơ thiếu máu do thiếu sắt ở người bệnh lao rất cao làm giảm sức đề kháng, dẫn đến dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, tim mạch… Cần ăn những thực phẩm giàu sắt như: mộc nhĩ, nấm hương, đậu nành, lòng đỏ trứng, thịt bò, thịt nạc, gan…

Vitamin K, B6: Do người bệnh hấp thu kém, dễ gặp rối loạn tiêu hóa nên khả năng tổng hợp vitamin K giảm, gây trở ngại quá trình đông máu. Các vitamin này có nhiều trong thực phẩm như: gan, các loại rau màu xanh đậm. Dùng thuốc điều trị lao thường phải dùng kéo dài (vài tháng) theo phác đồ chống lao, các thuốc này lại làm giảm khả năng hấp thụ vitamin B6 dễ gây viêm dây thần kinh ngoại biên, giảm miễn dịch do vậy ngoài uống vitamin B6 dạng dược phẩm bổ sung, người bệnh nên ăn thực phẩm chứa nhiều vitamin này như: thịt lợn nạc, thịt gà, đậu, đỗ các loại, khoai tây, chuối, súp lơ, ngũ cốc nguyên hạt…

Cần đa dạng món ăn: Do thể trạng yếu và tác dụng phụ của thuốc nên người bệnh dễ chán ăn, đòi hỏi phải đa dạng món ăn. Chọn những món người bệnh thích nhưng phải thường xuyên thay đổi để tạo sự kích thích. Nên chia nhỏ bữa ăn hằng ngày để người bệnh hấp thu tốt và đầy đủ hơn các chất dinh dưỡng cần thiết.

Những gì phải kiêng? Người bệnh tuyệt đối không được dùng các loại chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá vì những chất này làm giảm tác dụng điều trị và tăng tác dụng phụ của thuốc.

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2016

Xét nghiệm dùng trong chuẩn đoán bệnh lao phổi

Edit Posted by Unknown with No comments
Tại Việt Nam cũng như trên thế giới, lao là bệnh truyền nhiễm phổ biến ở Việt Nam. Theo thống kê, có khoảng 1/3 dân số thế giới bị nhiễm vi trùng lao. Tuy nhiên, phần lớn là không có biểu hiện triệu chứng của bệnh.

Mỗi năm, lao cướp đi gần 3 triệu người trên thế giới. Đa số các ca tử vong này xảy ra tại các nước đang phát triển. Trên toàn thế giới, lao là bệnh truyền nhiễm có tỉ lệ tử vong đứng thứ 2, chỉ sau HIV. Tuy vậy, phần lớn những BN HIV đều bị nhiễm lao, do hệ miễn dịch suy yếu là điều kiện thuận lơi cho vi khuẩn lao.


Với mức độ nguy hiểm của bệnh, không chỉ cho bản thân người bệnh mà cho cả xã hội thì việc phát hiện và chẩn đoán bệnh kịp thời là điều rất cần thiết. Dưới đây là những xét nghiệm giúp chẩn đoán xác định và phân biệt lao phổi với những bệnh lý ở phổi khác.

Nhuộm soi đờm trực tiếp

Kỹ thuật nhuộm soi đờm trực tiếp tìm vi khuẩn lao là phương pháp chẩn đoán chắc chắn nhất. Thông thường nhuộm theo phương pháp Ziehl – Neelsen hoặc phương pháp huỳnh quang với ánh sáng cực tím.

Cần làm AFB nhiều lần, ít nhất 3 lần trong 3 buổi sáng liên tiếp. Nếu bệnh nhân không khạc được đờm thì cho bệnh nhân dùng nước muối 5% ưu trương để lấy bệnh phẩm.

Nuôi cấy đờm

Làm tăng kết quả dương tính nhưng nếu nuôi cấy bằng phương pháp cổ điển phải mất 4 – 8 tuần mới có kết quả. Ngày nay, người ta tiến hành nuôi cấy vi khuẩn lao bằng phương pháp MGIT Bactec cho kết quả nhanh sau 1-2 tuần. Với những trường hợp bệnh nhẹ, ít trực khuẩn, soi trực tiếp có thể cho kết quả âm tính nhưng nuôi cấy đờm sẽ cho kết quả dương tính. Trong khi chờ đợi kết quả nuôi cấy cần quyết định việc điều trị căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và phim X quang.

Kháng sinh đồ

Để theo dõi tình trạng kháng thuốc trong cộng đồng và góp phần điều chỉnh thuốc cho bệnh nhân.

Ngoáy họng

Đối với bệnh nhân không khạc được đờm, có thể ngoáy họng bệnh nhân ở vị trí gốc lưỡi hướng về khí quản bằng một que bông vô khuẩn. Bệnh nhân ho sẽ làm dính một ít dịch vào miếng bông ở đầu que ngoáy. Đặt que vào lọ vô trùng, gửi phòng xét nghiệm nuôi cấy.

Hút dịch dạ dày chẩn đoán

Nếu bệnh nhân là trẻ em hoặc người già không khạc đờm có thể lấy bệnh phẩm từ dịch dạ dày buổi sáng.

Soi phế quản

Lấy dịch phế quản xét nghiệm tìm trực khuẩn lao, xét nghiệm PCR - BK, nuôi cấy vi khuẩn lao.

Sinh thiết phổi

Thấy tổn thương lao hoặc vi khuẩn lao trong bệnh phẩm sinh thiết.

Chụp Xquang phổi 


Các hình ảnh Xquang phổi nghi ngờ lao phổi:

- Đám mờ không đồng đều ở vùng đỉnh hoặc vùng dưới xương đòn hai phổi (một hoặc hai bên).

- Hình hang: Có thể một hoặc nhiều hang (lao hang).

- Những nốt, chấm mờ nhỏ như hạt kê, đường kính 1mm lan toả cả hai phổi (lao kê).

- Bóng mờ đặc tròn hoặc bầu dục ở góc ngoài hạ đòn hoặc hạ phân thuỳ 6 (thâm nhiễm Assman).

- Những bóng mờ ở rốn phổi và trung thất do hạch lympho sưng to.

- Có một vài nốt hoặc nhiều nốt to nhỏ khác nhau đường kính 3 – 10mm đậm độ không đều, thường gặp ở hạ đòn và đỉnh phổi một hoặc hai bên (lao nốt).

- Đám mờ hình thuỳ phổi (tam giác) có thể ở bất kỳ vị trí nào nhưng thông thường thấy ở thuỳ trên và thuỳ giữa.

Phản ứng Tuberculin

Loại phản ứng Tuberculin được dùng phổ biến là Mantoux.

Phản ứng Mantoux: tiêm 0,1mL dùng dịch có 10 đơn vị PPD vào trong da mặt trước cẳng tay tạo nên cục sần trên da từ 5 - 6mm đường kính. Đọc kết quả sau 72 giờ. Nếu phản ứng dương tính sẽ thấy một vùng "mẩn đỏ" và một cục cứng ở da. Đo đường kính cục theo chiều ngang cánh tay, phần quầng đỏ xung quanh không quan trọng. Phản ứng dương tính khi đường kính cục phản ứng > 10mm, âm tính < 5mm; không có ý nghĩa từ 5 – 9mm.

Nếu đã có những bằng chứng rõ ràng mắc bệnh lao thì phản ứng Tuberculin âm tính cũng sẽ không loại trừ được bệnh lao.

Nếu phản ứng Tuberculin dương tính mạnh giúp hướng tới chẩn đoán lao phổi nếu bệnh nhân có tổn thương Xquang nhưng BK đờm âm tính hoặc chẩn đoán lao tiềm ẩn nếu không rõ tổn thương trên X quang.

Xét nghiệm máu

Bệnh nhân có thể có thiếu máu nhẹ.

Số lượng bạch cầu thường không thay đổi hoặc hơi thấp hơn bình thường.

Tốc độ máu lắng có thể tăng, khi tốc độ máu lắng bình thường cũng không loại trừ.

Các phương pháp gián tiếp

Như dùng các kỹ thuật sinh hoá miễn dịch (ELISA), PCR để phát hiện những kháng nguyên hoặc những kháng thể của vi khuẩn lao trong huyết thanh hoặc dịch tiết của bệnh nhân cũng đang được áp dụng rộng rãi, giúp cho việc chẩn đoán ngày càng nhanh chóng và hiệu quả.